Các tác nhân làm trắng da

Sự khác nhau giữa cơ chế hoạt động để đạt được hiệu quả giảm sắc tố

Cần có sự phân biệt giữa mỹ phẩm và thuốc. Có một điều quan trọng cần phải nhận biết rằng là trong việc làm sáng các đốm sắc tố thì có một sự liên kết rất riêng biệt giữa tác dụng và sự kích ứng. Một thành phần hoạt tính có thể có hiệu quả nhưng không thực sự là không độc hại trong mọi trường hợp. Cần ghi nhớ rằng đối với nhiều phân tử tốt, hiệu quả có mối tương quan với tác dụng không mong muốn.

Bảng 1 : Sự khác nhau giữa cơ chế giảm sắc tố của các chất

 Cơ chế hoạt động  Các chất điển hình
 Ức chế sự sao chép tyrosinase  Tretinoin, glucosamine, retinol, retinaldehyde, N-acetyl   glucosamine
 Ức chế tyrosinase  Hydroquinone, mequinol, arbutin, azelaic acid, kojic   acid, ellagic acid, resveratrol, oxyresvaretral
 Thúc đẩy chu trình làm mới biểu bì  Vitamin C, vitamin E, thioctic acid, retinoids, lactic   acid,  glycolic acid, salicylic acid, liquiritin
 Ức chế sự di chuyển melanosome  Niacinamide, soy milk
 Kháng viêm  Linoleic acid, glycyrrhetinic acid
 Tác nhân bẫy gốc tự do  Topical steroids

 

Trong bài viết này, chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu vào các chất điển hình của sự ức chế tyrosinase

1. Hydroquinone và dẫn xuất

Hydroquinone là một phân tử khá phổ biến. Nó là sản phẩm oxy hóa của một số hợp chất thơm. Nó có công thức phân tử là C6H6O2 và công thức cấu tạo như sau :

Hydroquinone thường được tìm thấy trong khói thuốc lá, trong các chất bôi trơn cho động cơ diessel. Vì hay được sử dụng trong công nghiệp, phân tử này gây ra sự ô nhiễm không khí. Từ năm 1960, hydroquinone được sử dụng cho mục đích làm giảm sắc tố, việc này đã gây ra nhiều tranh cãi. Giai đoạn 1960 – 1966 ghi nhận sự gia tăng ổn định phần trăm hydroquinone trong các chế phẩm thương mại.

Các cơ chế khác nhau đã được đề xuất để tìm ra phương thức hoạt động của hydroquinone:

  1. Ức chế tổng hợp tyrosinase (enzyme chính sản xuất melanin)
  2. Ức chế tyrosinase
  3. Phá hủy các tế bào melanocyte bằng cách sản xuất các gốc tự do và sự can thiệp vào các bào quan chứa melanin (melanosome)

Các phương thức này góp phần giúp hydroquinone trở thành một tác nhân giảm sắc tố hiệu quả.

Về mặt độc hại của hoạt chất này, cần lưu ý khi sử dụng trong các ngành công nghiệp khác nhau như (rửa phim ảnh, tác nhân chống oxy hóa giúp bảo vệ dầu và chất béo, tác nhân ức chế trùng hợp trong quá trình liên quan đến các monomer như vinyl acetate, acrylate monomer, chất ổn định sơn) được phản ánh trong một số trường hợp tử vong trong quần thể có liên quan đến chất này. Một thống kê cho thấy rằng trong 48 năm từ 1942 – 1990 đã có 879 người chết vì các bệnh liên quan đến công việc có chứa hydroquinone

Việc sử dụng hydroquinone bôi tại chỗ được biết là nguyên nhân gây ra chứng ochronosis (sự lắng đọng sắc tố da) và chất chuyển hóa của nó cũng liên quan đến độc tính tủy xương. Tại nồng độ dao động từ 2 – 5% nó gây ra nhiều tác dụng phụ không mong muốn như viêm da kích ứng, viêm da tiếp xúc, tăng sắc tố sau viêm, sự thay đổi màu da vĩnh viễn, đổi màu móng tay. Các hiệu ứng da đã được biết đến từ những năm 1970. Ban đầu, các khách hàng cảm thấy rằng việc điều trị giảm sắc tố được cho là thỏa đáng, dấu hiệu da bị khuyết điểm không xuất hiện cho đến vài năm sau đó. Để đối phó với tình trạng này, người sử dụng có cảm giác như bị ép buộc sử dụng các sản phẩm “mạnh hơn và mạnh hơn”. Những sản phẩm được gọi là mạnh hơn này thường bao gồm hydroquinone. Các hiệu ứng không mong muốn mà người ta muốn tránh lại được tăng cường.

Cuối cùng, hydroquinone bị nghi ngờ là tác nhân gây ung thư. Tuy nhiên, không có tác dụng gây đột biến được chứng minh ở chuột. Một tác dụng ức chế cạnh tranh trên tyrosinase có thể giải thích cho hoạt động của nó, tuy nhiên điều này chưa được xác nhận. Độc tính của nó với các tế bào melanocyte thông qua việc sản xuất các gốc tự do là không thể phủ nhận. Hydroquinone bị cấm trong các sản phẩm mỹ phẩm ở châu Âu từ ngày 1-3-2000. Liều dùng từ 1.5 – 2% được GRASE (Generally Recognized As Safe and Effective) công nhận là an toàn từ năm 1982

Năm 1975, Albert Kligman đề xuất công thức dựa trên 0.1% tretinoin, 5% hydroquinone và 0.1% dexamethasone trong điều trị nám, tàn nhang và chứng tăng sắc tố sau viêm. Các sự kết hợp khác cũng được đề xuất như chế phẩm của pathak (hỗn hợp ether hydroquinone với tretinoin), Westerhof (sự kết hợp giữa phenol và vitamin C).

Năm 2004, Espinal-Perez LE, Moncada B,Castanedo-Cazares đã thí nghiệm so sánh giữa sản phẩm có chứa 5% vitamin C với 4% hydroquinone trên 16 phụ nữ bị nám, có sử dụng kem chống nắng hàng ngày trong 16 tuần. Kết quả hiệu quả của nhóm phụ nữ sử dụng sản phẩm có chứa hydroquinone cao hơn nhiều so với nhóm sử dụng vitamin C (93% so với 62.5%), nhưng tác dụng phụ (kích ứng) xuất hiện ở 11/16 phụ nữ sử dụng hydroquinone trong khi ở nhóm sử dụng vitamin C là 1/16

Việc cho rằng hydroquinone là một trong những chất giảm sắc tố hiệu quả nhất, một loại codrug (bao gồm 2 loại thuốc hiệp đồng liên kết hóa học với nhau, để cải tiến các đặc tính của một hoặc cả hai loại) được thu bởi quá trình ester hóa hydroquinone với azelaic acid. Mục đích tăng gấp 3 lần : có được hiệu quả hiệp đồng, tăng cường thẩm thấu qua da và tăng tính ổn định của các thành phần hoạt chất bằng cách che đi các chức năng không ổn định nhất. Đối với sự thẩm thấu qua da, các thí nghiệm in vitro đã chỉ ra sự thẩm thấu của codrug lớn hơn 2 lần so với từng chất 1.

Hydroquinone dạng mono ethyl ether (HQME), còn được biết như là 4-hydroxyanisole hay mequinol, ít gây kích ứng hơn hydroquinone và không độc tế bào melanocytes ở người. Hỗn hợp của mequinol (2%) và retinoic acid (0.01%) là codrug. Thử nghiệm lâm sàng với 595 đối tượng (486 phụ nữ và 109 nam giới) với hội chứng tăng sắc tố do ánh nắng mặt trời có thể chứng minh giá trị của sự kết hợp này. Các kiểm tra khác trên in vivo cũng xác nhận những kết quả này. Cần lưu ý rằng sự kết hợp này mặc dù có hiệu quả, ít gây ra tác dụng phụ tuy nhiên hiện tượng ban đỏ, ngứa, tróc vảy vẫn có thể được quan sát thấy

2. Retinoic acid, tretinoin, vitamin A acid

Vitamin A còn được gọi là retinol, một chất có công thức phân tử C20H30O, công thức cấu tạo :

Retinol và các dẫn xuất của nó đóng vai trò thiết yếu trong chức năng trao đổi chất của võng mạc, sự tăng trưởng và khác biệt của các tổ chức biểu mô, sự phát triển của xương, hệ sinh sản, hệ miễn dịch. Vitamin A đường ăn uống có nguồn gốc từ nhiều loại carotenoid được tìm thấy trong thực vật. Nó có nhiều trong gan, lòng đỏ trứng, thành phần chất béo có trong bơ sữa.

Retinol là một vitamin tan dầu. Nó liên kết và kích hoạt các thụ thể retinoid (RAR), do đó gây ra sự phân biệt tế bào và thúc đẩy quá trình tự chết của một số loại tế bào ung thư và ức chế sự sinh ung thư.

Nhu cầu vitamin A hàng ngày được đề nghị 300 – 700 μg đối với trẻ em và 700 – 900 μg đối với người lớn, hàm lượng có thể được cung cấp qua chế độ ăn hàng ngày. Việc sử dụng vitamin A với liều lượng quá cao gây độc cho cơ thể với các triệu chứng như tổn thương gan, vàng da, xơ gan, tăng huyết áp…vv

Các dẫn xuất của vitamin A gồm Retinaldehyde, retinoic acid hay còn gọi là tretinoin. Với việc sử dụng vitamin A dạng acid kết hợp với hydroquinone như một yếu tố thâm nhập, hiệu quả vốn có của nó đã trở nên rõ ràng. Tretinoin có các cơ chế hoạt động riêng biệt. Nó trực tiếp can thiệp vào quá trình hình thành hắc tố melanin bằng cách ức chế sự kích thích tyrosinase và phân tán các hạt sắc tố trong tế bào sừng, mặt khác nó thúc đẩy quá trình tăng tốc chu trình làm mới biểu bì. Các tác dụng không mong muốn có thể quan sát được là ban đỏ và bong tróc da. Vitamin A acid, một phân tử chuyển hóa rộng rãi ở động vật có xương sống, được cho là chất chuyển hóa có hoạt tính. Quá trình ester hóa chất béo, oxy hóa, khử hóa và phản ứng β – glucuronidation được sinh ra. Bản chất gây quái thai của retinoic acid đã được chứng minh rõ ràng [1]. Vì lý do này, retinoic acid bị cấm dùng trong mỹ phẩm.

Đến thời điểm hiện tại, tất cả các loại thuốc có chứa tretinoin, retinoic acid chỉ có mục đích là điều trị mụn. Các loại tretinoin, retinoic acid đường uống, đường bôi đều phải có giấy cam đoan của bệnh nhân trước khi sử dụng và không được sử dụng cho phụ nữ có thai và cho con bú.

3. Kojic acid